Không ít người bất ngờ khi nhận được quyết định thi hành án nhưng người ký lại không phải Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Vậy quyết định thi hành án do người được ủy quyền ký có hợp pháp không? Trường hợp nào được phép ký thay và trường hợp nào bị pháp luật nghiêm cấm? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ quy định mới, tránh nhầm lẫn và biết cách bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
1. Quyết định thi hành án là gì?
Quyết định thi hành án là văn bản do cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ban hành để tổ chức thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc các quyết định khác được thi hành theo quy định của pháp luật. Mục đích để cơ quan thi hành án triển khai các hoạt động như yêu cầu đương sự tự nguyện thi hành, áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án và thực hiện các thủ tục cần thiết nhằm bảo đảm bản án, quyết định được thực hiện trên thực tế.
Sau khi ban hành, quyết định thi hành án phải được thông báo hợp lệ cho người phải thi hành án, người được thi hành án và những người có quyền, nghĩa vụ lien quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định.
Theo Điều 35 Luật Thi hành án dân sự 2025, việc thông báo phải được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, trừ một số trường hợp đặc biệt như cần ngăn chặn việc tẩu tán tài sản, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
2. Quyết định thi hành án do người được ủy quyền ký có hợp pháp không?
Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 06/2026/TT-BTP, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không được ủy quyền cho người khác ký quyết định thi hành án.
Mặc dù pháp luật cho phép Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy quyền cho Chấp hành viên trưởng ký thừa ủy quyền một số quyết định về thi hành án đối với các vụ việc do Phòng Thi hành án dân sự khu vực tổ chức thi hành, nhưng quyết định thi hành án lại là trường hợp bị loại trừ, không được phép ủy quyền ký thay.
Cụ thể, Điều 4 Thông tư 06/2026/TT-BTP quy định:
“…
Điều 4. Ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
1. Việc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cho người đứng đầu các đơn vị quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Thi hành án dân sựthực hiện như sau:
a) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền cho Chấp hành viên trưởng ký thừa ủy quyền các quyết định về thi hành án đối với việc thi hành án do Phòng Thi hành án dân sự khu vực tổ chức thi hành,trừquyết định thi hành án và các quyết định quy định tại điểm g và điểm i khoản 2 Điều 22 của Luật Thi hành án dân sự và các trường hợp pháp luật có liên quan quy định không được ủy quyền.
Việc ủy quyền ký thừa ủy quyền phải được thể hiện bằng quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và gửi cho cơ quan có liên quan để biết, phối hợp.
Chấp hành viên trưởng chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy quyền; có quyền yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp với Phòng Thi hành án dân sự khu vực hoặc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên trong việc tổ chức thi hành án;
b) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền cho người đứng đầu các đơn vị quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Thi hành án dân sựký thừa lệnh các văn bản theo thẩm quyền, trừ các quyết định theo quy định tại điểm a khoản này.
Việc ủy quyền ký thừa lệnh phải được thể hiện trong quy chế làm việc hoặc quy chế công tác văn thư của cơ quan thi hành án dân sự.
Người đứng đầu các đơn vị chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy quyền.
2. Người đứng đầu các đơn vị quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Thi hành án dân sựcó thể ủy quyền cho cấp phó của mình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, trừ việc ký các quyết định về thi hành án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Cấp phó của người đứng đầu các đơn vị quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Thi hành án dân sựthực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công, ủy quyền của người đứng đầu và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.
3. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã ủy quyền; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc ủy quyền; chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình ủy quyền, trừ trường hợp người được ủy quyền thực hiện không đúng nội dung, phạm vi được ủy quyền.
…”
Như vậy, quyết định thi hành án do người được ủy quyền ký không thuộc trường hợp pháp luật cho phép và không được xem là việc ký đúng thẩm quyền. Ngược lại, đối với các quyết định khác được pháp luật cho phép ủy quyền và việc ủy quyền được thực hiện đúng quy định thì quyết định do người được ủy quyền ký vẫn có giá trị pháp lý.
3. Người dân phải làm gì nếu nghi ngờ người ký không đúng thẩm quyền?
Nếu nghi ngờ quyết định thi hành án được ký không đúng thẩm quyền, người dân nên kiểm tra thông tin về người ký và căn cứ ủy quyền (nếu có), đồng thời đề nghị cơ quan thi hành án dân sự giải thích hoặc cung cấp quyết định ủy quyền theo quy định. Trường hợp phát hiện việc ký ban hành không đúng thẩm quyền, người dân có thể thực hiện quyền khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Liên hệ Hãng Luật Anh Đào và Cộng sự:
📞 Hotline: 0932 049 492
📧 Email: gvndtb1992@gmail.com
🏢 Địa chỉ: 18B Nam Quốc Cang, Phường Bến Thành, TP.HCM

