Lời ai đúng, lời ai sai? là câu hỏi thường gặp khi các bên trong vụ án hình sự đưa ra những lời khai trái ngược nhau. Nhiều người cho rằng chỉ cần một người nhận tội là đủ để kết án, nhưng pháp luật có thực sự quy định như vậy? Khi lời khai mâu thuẫn, cơ quan điều tra sẽ làm gì và người bị buộc tội có bắt buộc phải khai nhận hay không? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
1. Những người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự gồm những ai?
Theo Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) người tham gia tố tụng bao gồm:
“…
Điều 55. Người tham gia tố tụng
1. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.
3. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
4. Người bị bắt.
5. Người bị tạm giữ.
6. Bị can.
7. Bị cáo.
8. Bị hại.
9. Nguyên đơn dân sự.
10. Bị đơn dân sự.
11. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
12. Người làm chứng.
13. Người chứng kiến.
14. Người giám định.
15. Người định giá tài sản.
16. Người phiên dịch, người dịch thuật.
17. Người bào chữa.
18. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
19. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố.
20. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác theo quy định của Bộ luật này.
…”
Từ quy định trên có thể hiểu, mỗi người tham gia tố tụng có vị trí pháp lý, quyền và nghĩa vụ riêng. Trong đó, lời khai, ý kiến trình bày của họ có thể trở thành nguồn chứng cứ quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
2. Lời khai có phải là chứng cứ duy nhất để kết tội không?
Nhiều người cho rằng chỉ cần bị can hoặc bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể kết tội ngay. Tuy nhiên, Theo Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) không cho phép kết tội một người chỉ dựa vào lời nhận tội của họ.
Cụ thể,
“…
Điều 98. Lời khai của bị can, bị cáo
1. Bị can, bị cáo trình bày những tình tiết của vụ án.
2. Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án.
Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.
…”
Như vậy, lời khai của bị can, bị cáo là nguồn chứng cứ quan trọng nhưng không phải là chứng cứ duy nhất để buộc tội hoặc kết tội. Mọi kết luận về hành vi phạm tội đều phải được chứng minh bằng hệ thống chứng cứ đầy đủ, khách quan và hợp pháp theo quy định của pháp luật.
3. Khi lời khai của những người tham gia tố tụng mâu thuẫn thì giải quyết như thế nào?
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, việc những người tham gia tố tụng đưa ra các lời khai khác nhau hoặc trái ngược nhau là tình huống không hiếm gặp. Chẳng hạn, bị can phủ nhận hành vi phạm tội trong khi người bị hại cho rằng bị can là người thực hiện hành vi. Hoặc những người làm chứng có những lời khai không thống nhất về cùng một sự việc. Khi đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Theo Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), trường hợp mâu thuẫn lời khai giữa hai người hoặc nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng vẫn chưa giải quyết được thì Điều tra viên sẽ tiến hành đối chất.
“…
Điều 189. Đối chất
1. Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất.
2. Nếu có người làm chứng hoặc bị hại tham gia thì trước khi đối chất Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.
3. Khi bắt đầu đối chất, Điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Sau khi nghe đối chất, Điều tra viên có thể hỏi thêm từng người.
Trong quá trình đối chất, Điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan; có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; câu hỏi và trả lời của những người này phải ghi vào biên bản.
Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lời khai trước đó của họ.
4. Biên bản đối chất được lập theo quy định tạiĐiều 178 của Bộ luật này.Việc đối chất có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
5. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể tiến hành đối chất. Việc đối chất được tiến hành theo quy định tại Điều này.
…”
Như vậy, khi lời khai của những người tham gia tố tụng có sự mâu thuẫn, cơ quan tiến hành tố tụng không mặc nhiên tin vào bất kỳ lời khai nào mà phải kiểm tra, đối chiếu với các chứng cứ khác và có thể tiến hành đối chất để xác định sự thật khách quan của vụ án.
4. Người bị buộc tội có bắt buộc phải khai nhận hay không?
Theo quy định của pháp luật hiện hành, người bị buộc tội có quyền trình bày lời khai, đưa ra chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nhưng không có nghĩa vụ phải khai nhận vi phạm tội hoặc phải chứng minh mình vô tội. Nguyên tắc này thể hiện rõ tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
“…
Điều 13. Suy đoán vô tội
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.
…”
Bên cạnh đó, Theo Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) cũng quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội.
“…
Điều 15. Xác định sự thật của vụ án
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
…”
Có thể thấy, pháp luật bảo đảm quyền của người bị buộc tội thông qua nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, người bị buộc tội không bắt buộc phải khai nhận tội hoặc phải chứng minh mình vô tội trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Liên hệ Hãng Luật Anh Đào và Cộng sự:
📞 Hotline: 0932 049 492
📧 Email: gvndtb1992@gmail.com
🏢 Địa chỉ: 18B Nam Quốc Cang, Phường Bến Thành, TP.HCM

