Người bào chữa là ai? Quyền, nghĩa vụ và thời điểm tham gia tố tụng theo quy định mới nhất

người bào chữa

Nhiều người cho rằng chỉ khi vụ án được đưa ra xét xử mới cần đến luật sư hoặc người bào chữa. Tuy nhiên, đây là một trong những quan niệm sai lầm có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị buộc tội. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, người bào chữa có thể tham gia từ rất sớm trong quá trình giải quyết vụ án và được trao nhiều quyền quan trọng để bảo vệ thân chủ. Vậy người bào chữa gồm những ai? Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định ra sao? Thời điểm nào người bào chữa được tham gia tố tụng? Bài viết dưới đây sẽ phân tích đầy đủ các quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này.

1. Quy định về người bào chữa hiện hành

Nguời bào chữa là một trong những chủ thể đặc biệt quan trọng trong tố tụng hình sự, có vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, góp phần bảo đảm nguyên tắc trong tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội và hạn chế nguy cơ oan, sai trong hoạt động tố tụng.

Theo Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và đã hoàn thành thủ tục đăng ký bào chữa theo quy định của pháp luật.

“…

Điều 72. Người bào chữa

1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.

2. Người bào chữa có thể là:

a) Luật sư;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

3. Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

4. Những người sau đây không được bào chữa:

a) Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;

b) Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

5. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng vụtán nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau.

Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị buộc tội.

…”

Để bảo đảm tính khách quan, độc lập và tránh xung đột lợi ích trong hoạt động tố tụng pháp luật đã quy đinh rõ các trường hợp không được tham gia bào chữa. Theo đó, những người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án, người thân thích của họ, người tham gia vụ án với tư cách làm chứng, người giám định, người phiên dịch,…đều không được phép trở thành người bào chữa. Những hạn chế này nhằm bảo đảm sự vô tư, khách quan và tính minh bạch của quá trình giải quyết vụ án hình sự.

2. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)

Cụ thể:

“…

Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

1. Người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

i) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

l) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.

2. Người bào chữa có nghĩa vụ:

a) Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo;

b) Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;

c) Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan;

d) Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;

đ) Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;

e) Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

g) Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3. Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của luật.

…”

Như vậy, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa luôn tồn tại song song và có mối quán hệ chặt chẽ với nhau. Trong khi các quyền được thiết kế nhằm bảo đảm khả năng bảo vệ tốt nhất cho người bị buộc tội thì các nghĩa vụ lại đóng vai trò kiểm soát hoạt động bào chữa, bảo đảm việc thực hiện quyền bào chữa diễn ra đúng pháp luật, khách quan và phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

3. Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng

Trên thực tế, việc người bào chữa được tham gia càng sớm càng giúp bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. Đồng thời hạn chế nguy cơ xảy ra các vi phạm tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.

Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) người bào chữa được tham gia tố tụng kể từ thời điểm khởi tố bị can. Đât là thời điểm cá nhân chính thức bị xác định là người bị buộc tội trong vụ án hình sự và phải đối mặt với nguy cơ bị áp dụng các biện pháp tố tụng nghiêm khắc hơn.

“…

Điều 74. Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng

Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.

Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

…”

Trên đây là những quy định cơ bản về người bào chữa theo Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, bao gồm chủ thể được tham gia bào chữa, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa cũng như thời điểm tham gia tố tụng. Việc hiểu đúng các quy định này không chỉ giúp người bị buộc tội bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn góp phần bảo đảm tính công bằng, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Nếu còn vướng mắc liên quan đến quyền bào chữa hoặc thủ tục tố tụng hình sự, người dân nên tham khảo ý kiến luật sư để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Liên hệ Hãng Luật Anh Đào và Cộng sự:
📞 Hotline: 0932 049 492
📧 Email: gvndtb1992@gmail.com
🏢 Địa chỉ: 18B Nam Quốc Cang, Phường Bến Thành, TP.HCM