Cho vay lãi nặng nhiều lần thì bị tịch thu toàn bộ số tiền đã cho vay hay chỉ tính tiền gốc ban đầu?

cho vay lãi nặng nhiều lần

Cho vay lãi nặng nhiều lần có bị tịch thu toàn bộ số tiền đã cho vay hay chỉ tính tiền gốc ban đầu? Không ít người cho rằng cứ cho vay nhiều lần thì toàn bộ số tiền sẽ bị tịch thu. Tuy nhiên, cách xác định số tiền bị xử lý không đơn giản như vậy mà còn phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ quy định này.

1. Cho vay lãi nặng nhiều lần được hiểu như thế nào?

Theo Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người nào cho vay trong giao dịch dân sự với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự cho phép và thu lợi bất chính theo quy định thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Hiện nay, mức lãi suất cao nhất theo Bộ luật Dân sự là 20%/năm, trừ trường hợp luật khác có quy định khác.

Trong thực tế, cho vay lãi nặng nhiều lần được hiểu là trường hợp người cho vay thực hiện từ hai giao dịch cho vay trở lên với cùng một người hoặc nhiều người khác nhau, trong đó mỗi giao dịch đều áp dụng mức lãi suất vượt quá giới hạn pháp luật cho phép. Các lần cho vay này có thể là những khoản vay độc lập hoặc khoản vay sau được hình thành từ số tiền gốc và tiền lãi của khoản vay trước chưa được thanh toán. Việc xác định bản chất của từng giao dịch có ý nghĩa quan trọng để xác định số tiền bị tịch thu và xử lý trong vụ án hình sự.

Ví dụ: Ngày 01/01/2025, Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay 10.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày, tiền lãi là 1.400.000 đồng (20.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày). Đến ngày 05/01/2025, A tiếp tục cho B vay thêm 50.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày với tiền lãi là 7.000.000 đồng. Đây là hai giao dịch vay độc lập nên tổng số tiền cho vay được xác định là 60.000.000 đồng.

2. Người phạm tội cho vay lãi nặng bị xử lý như thế nào?

Theo Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), người nào cho vay trong giao dịch dân sự với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự quy định và thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên, hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích còn vi phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cụ thể,

“…

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Có thể thấy, pháp luật không chỉ xử lý đối với hành vi cho vay với lãi suất vượt quá giới hạn cho phép mà còn căn cứ vào mức thu lợi bất chính, nhân thân của người phạm tội và các điều kiện khác để quyết định hình phạt phù hợp.

3. Cho vay lãi nặng nhiều lần thì số tiền, tài sản bị xử lý như thế nào?

Một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm là khi người phạm tội cho vay lãi nặng nhiều lần, cơ quan có thẩm quyền sẽ tịch thu toàn bộ số tiền đã chon vay hay chỉ tính số tiền gốc ban đầu.

Theo quy định hiện hành, tiền và tài sản mà người phạm tội sử dụng để cho vay lãi nặng đều có thể bị tịch thu sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, việc xác định số tiền dùng để cho vay không phải trong mọi trường hợp đều được cộng dồn mà phải căn cứ vào bản chất của từng giao dịch.

Thứ nhất, trường hợp các khoản vay là những giao dịch độc lập. Nếu mỗi lần cho vay là một giao dịch riêng biệt, có số tiền gốc độc lập và không liên quan đến các khoản vay trước thì số tiền này được xác định là tổng số tiền gốc của tất cả các lần giao dịch.

Ví dụ: Ngày 01/01/2025, Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay 10.000.000 đồng. Đến ngày 05/01/2025, A tiếp tục cho B vay thêm 50.000.000 đồng theo một giao dịch mới. Trong trường hợp này, tổng số tiền cho vay được xác định là 60.000.000 đồng.

Thứ hai, trường hợp khoản vay sau chỉ là khoản nợ được cộng dồn từ tiền gốc và tiền lãi của khoản vay trước. Nếu đến hạn người vay chưa thanh toán và các bên chỉ lập giấy vay mới trên cơ sở cộng tiền gốc với tiền lãi của khoản vay trước thì không được xem là một khoản vay độc lập. Khi đó, số tiền dùng để cho vay chỉ được xác định là số tiền gốc ban đầu, không phải toàn bộ số tiền ghi trong giấy vay mới.

Ví dụ: Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay lần 1 với số tiền gốc là 10.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày với lãi suất là 1.400.000 đồng (20.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày). Đến hạn B không trả được nợ cho A nên A tiếp tục lập giấy vay nợ lần 2 với tổng số tiền là 11.400.000 đồng (bao gồm tiền gốc và lãi lần 1) trong thời hạn 07 ngày với lãi suất 17.556.000 đồng. Trường hợp này, số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu được xác định là 10.000.000 đồng.

Như vậy, không phải mọi trường hợp cho vay lãi nặng nhiều lần đều bị cộng toàn bộ số tiền để tịch thu sung quỹ nhà nước. Việc xác định số tiền bị xử lý phụ thuộc vào việc các khoản vay là những giao dịch độc lập hay chỉ là việc cộng dồn tiền gốc và tiền lãi của khoản vay trước. Đây là căn cứ quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng xử lý đúng số tiền và tài sản liên quan trong vụ án.

Liên hệ Hãng Luật Anh Đào và Cộng sự:
📞 Hotline: 0932 049 492
📧 Email: gvndtb1992@gmail.com
🏢 Địa chỉ: 18B Nam Quốc Cang, Phường Bến Thành, TP.HCM