Nhiều người cho rằng chỉ cần bồi thường cho người bị hại thì sẽ không bị xử lý hình sự khi xảy ra xô xát gây thương tích. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải trường hợp nào bồi thường xong cũng được miễn trách nhiệm. Vậy gây thương tích nhưng đã bồi thường có bị khởi tố nữa không? Pháp luật quy định thế nào về việc xử lý hành vi cố ý gây thương tích theo Bộ luật Hình sự 2015 và khi nào vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ các trường hợp vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự dù đã bồi thường, cũng như những tình huống có thể được hòa giải và đình chỉ vụ án.
1. Gây thương tích là gì theo quy định pháp luật?
Theo quy định của pháp luật, hành vi gây thương tích cho người khác có thể bị xử lý về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tội danh này được quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).
Cụ thể, khoản 1 Điều 134 quy định:
“…
Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
…”
Các trường hợp đặc biệt dù tỷ lệ thương tật dưới 11% nhưng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự bao gồm: dùng hung khí nguy hiểm, sử dụng axit hoặc hóa chất nguy hiểm, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ đang mang thai, người già yếu, người đang thi hành công vụ, hoặc hành vi có tính chất côn đồ, có tổ chức…
Như vậy, gây thương tích được hiểu là hành vi cố ý dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác tác động đến cơ thể người khác làm tổn hại đến sức khỏe hoặc gây ra thương tích. Tùy vào tỷ lệ tổn thương cơ thể và tính chất hành vi, người thực hiện có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Gây thương tích nhưng đã bồi thường có bị khởi tố không?
Việc người gây thương tích đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại không đồng nghĩa với việc chắc chắn sẽ không bị khởi tố hình sự. Vấn đề có bị khởi tố hay không còn phụ thuộc vào mức độ thương tích và quy định về khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo pháp luật tố tụng hình sự.
Theo Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015, hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy vào tỷ lệ tổn thương cơ thể và tính chất, mức độ của hành vi.
Bên cạnh đó, Điều 155 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại như sau:
“…
Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại
…”
Như vậy, đối với tội cố ý gây thương tích thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại. Trong trường hợp hai bên đã hòa giải, người gây thương tích đã bồi thường thiệt hại và bị hại rút yêu cầu khởi tố, thì theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự, vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp việc rút đơn là do bị ép buộc hoặc cưỡng bức.
Tuy nhiên, nếu hành vi gây thương tích thuộc các khoản 2, 3, 4 hoặc 5 Điều 134 Bộ luật Hình sự (ví dụ tỷ lệ thương tật cao hoặc gây hậu quả nghiêm trọng), thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể khởi tố vụ án hình sự dù các bên đã bồi thường và hòa giải.
Như vậy, có thể thấy rằng việc bồi thường thiệt hại chỉ là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, còn việc có bị khởi tố hay không phải căn cứ vào mức độ thương tích và quy định khởi tố theo yêu cầu của bị hại trong từng trường hợp cụ thể.
3. Bồi thường thiệt hại trong vụ án gây thương tích gồm những khoản nào?
Khi một người có hành vi gây thương tích làm tổn hại đến sức khỏe của người khác thì ngoài trách nhiệm hình sự, người gây thiệt hại còn phải bồi thường thiệt hại về dân sự cho người bị hại. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường được quy định tại Điều 584 của Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, người nào có hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Cụ thể, theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm trong các vụ án gây thương tích thường bao gồm các khoản sau:
Thứ nhất, chi phí hợp lý cho việc chữa trị và phục hồi sức khỏe: Đây là các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình điều trị như tiền khám chữa bệnh, tiền thuốc, viện phí, chi phí đi lại để điều trị, chi phí phục hồi chức năng hoặc bồi dưỡng sức khỏe sau khi bị thương.
Thứ hai, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị hại: Trong thời gian điều trị, người bị thương có thể phải nghỉ việc nên bị mất hoặc giảm thu nhập. Khoản thu nhập này có thể được yêu cầu bồi thường dựa trên mức thu nhập thực tế hoặc mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.
Thứ ba, chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc: Nếu người bị thương cần có người chăm sóc trong quá trình điều trị thì chi phí hợp lý cho việc chăm sóc cũng được tính vào khoản bồi thường. Ngoài ra, nếu người chăm sóc phải nghỉ làm để chăm sóc người bị hại thì phần thu nhập bị mất cũng có thể được yêu cầu bồi thường.
Thứ tư, chi phí chăm sóc lâu dài trong trường hợp mất khả năng lao động: Trường hợp người bị hại bị tổn thương nghiêm trọng dẫn đến mất khả năng lao động và cần người chăm sóc thường xuyên thì chi phí cho việc chăm sóc lâu dài cũng phải được bồi thường.
Thứ năm, bồi thường tổn thất về tinh thần: Ngoài các thiệt hại vật chất, người gây thương tích còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị hại theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015. Mức bồi thường cụ thể có thể do các bên thỏa thuận hoặc do Tòa án quyết định nếu không đạt được thỏa thuận.
Như vậy, trong các vụ án gây thương tích, việc bồi thường thiệt hại không chỉ bao gồm chi phí điều trị mà còn bao gồm nhiều khoản thiệt hại liên quan đến thu nhập, chi phí chăm sóc và tổn thất tinh thần của người bị hại. Việc xác định mức bồi thường cụ thể sẽ dựa trên thiệt hại thực tế phát sinh và chứng cứ chứng minh trong vụ án.
Liên hệ Hãng Luật Anh Đào và Cộng sự:
📞 Hotline: 0932 049 492
📧 Email: gvndtb1992@gmail.com
🏢 Địa chỉ: 18B Nam Quốc Cang, Phường Bến Thành, TP.HCM

