Không biết địa chỉ của đương sự ở nước ngoài có khiến vụ án bị đình trệ? Đây là vấn đề thường gặp khi khởi kiện hoặc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Vậy Tòa án có thể xác minh địa chỉ của đương sự ở nước ngoài không, thực hiện bằng cách nào và người khởi kiện cần cung cấp những thông tin gì? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ quy định pháp luật và hướng xử lý trong trường hợp này.
1. Đương sự ở nước ngoài là như thế nào?
Đương sự ở nước ngoài có thể hiểu là người tham gia vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại hoặc lao động tại Việt Nam nhưng hiện đang cư trú, làm việc hoặc học tập ở nước ngoài. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trường hợp vụ việc dân sự có đương sự ở nước ngoài thuộc nhóm vụ việc có yếu tố nước ngoài và có thể làm phát sinh yêu cầu tương trợ tư pháp, tống đạt giấy tờ hoặc xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài.
Ví dụ, một người đang cư trú tại Hoa Kỳ nhưng có tranh chấp dân sự tại Việt Nam thì người đó có thể là đương sự ở nước ngoài trong vụ án. Trường hợp người khởi kiện không biết địa chỉ hiện tại của người này ở nước ngoài, việc xác minh địa chỉ có thể trở thành vấn đề cần được Tòa án xem xét trong quá trình giải quyết vụ án.
2. Tòa án có thể xác minh địa chỉ của đương sự ở nước ngoài không?
Trong một số trường hợp, khi cần xác định địa chỉ của đương sự đang ở nước ngoài để phục vụ việc giải quyết vụ án, Tòa án Việt Nam có thể thực hiện việc xác minh thông qua cơ chế tương trợ tư pháp hoặc các phương thức phù hợp theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Theo Điều 475 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án thực hiện việc thu thập chứng cứ ở nước ngoài theo các phương thức được quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này hoặc thông qua đường dịch vụ bưu chính đối với trường hợp đương sự là công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài. Đặc biệt, Công văn số 114/TANDTC-HTQT ngày 17/9/2021 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn cụ thể về việc xác minh địa chỉ của đương sự ở nước ngoài. Theo đó, tùy từng quốc gia, vùng lãnh thổ và cơ sở pháp lý áp dụng, Tòa án Việt Nam có thể gửi yêu cầu tương trợ tư pháp để đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hỗ trợ xác minh địa chỉ của đương sự.
Việc xác minh địa chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và nước có liên quan. Chẳng hạn, Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và Hungary quy định việc xác định địa chỉ của một người cư trú trên lãnh thổ của một bên có thể thuộc phạm vi yêu cầu thu thập chứng cứ. Đối với một số quốc gia, vùng lãnh thổ chưa có quy định cụ thể về xác minh địa chỉ trong hiệp định tương trợ tư pháp, việc hỗ trợ còn phụ thuộc vào pháp luật và sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu. Vì vậy, không phải mọi trường hợp Tòa án Việt Nam đều có thể trực tiếp yêu cầu cơ quan nước ngoài xác minh địa chỉ của đương sự.
Ngoài ra, đối với công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài, trong những trường hợp phù hợp, Tòa án có thể thực hiện các thủ tục cần thiết thông qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài theo cơ chế tương trợ tư pháp. Công văn số 114/TANDTC-HTQT cũng có hướng dẫn về thủ tục đề nghị cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ xác minh địa chỉ của đương sự.
Như vậy, khi không biết địa chỉ của đương sự ở nước ngoài, Tòa án không nhất thiết phải dừng việc giải quyết vụ án. Tùy từng trường hợp, Tòa án có thể áp dụng cơ chế tương trợ tư pháp hoặc phương thức phù hợp để xác minh địa chỉ, bảo đảm việc tống đạt văn bản tố tụng và giải quyết vụ việc theo đúng quy định pháp luật.
3. Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong việc xác minh địa chỉ đương sự ở nước ngoài
Theo khoản 2 Điều 473 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trước khi thụ lý vụ án, trong trường hợp cần xác định địa chỉ của đương sự ở nước ngoài để làm cơ sở giải quyết vụ việc, Tòa án có thể thực hiện việc ủy thác tư pháp theo quy định. Nội dung này được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể tại Công văn số 114/TANDTC-HTQT ngày 17/9/2021 về việc xác minh địa chỉ của đương sự ở nước ngoài.
Theo Công văn số 114/TANDTC-HTQT, Tòa án có thể ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác minh địa chỉ của đương sự hoặc, đối với công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài trong những trường hợp phù hợp, đề nghị Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ xác minh địa chỉ.
Tuy nhiên, để Tòa án thực hiện việc xác minh, người khởi kiện, người yêu cầu hoặc đương sự có liên quan phải cung cấp những thông tin mà mình có về người cần xác minh. Tùy trường hợp, các thông tin này có thể bao gồm họ tên, ngày tháng năm sinh, quốc tịch, giới tính, số hộ chiếu, số căn cước công dân, thông tin về thẻ thường trú, thẻ tạm trú, giấy phép lái xe hoặc các giấy tờ khác có liên quan đến người cần xác minh.
Đặc biệt, nếu người yêu cầu không cung cấp được những thông tin cần thiết để xác minh, Công văn số 114/TANDTC-HTQT quy định Tòa án không có căn cứ để ủy thác tư pháp cho nước ngoài hoặc đề nghị Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài xác minh địa chỉ trong trường hợp đó.
Bên cạnh đó, khi đã có địa chỉ của đương sự ở nước ngoài, Tòa án thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng hoặc thu thập chứng cứ theo các phương thức được pháp luật tố tụng dân sự quy định. Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định nhiều phương thức tống đạt cho đương sự ở nước ngoài, trong đó có phương thức theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đường ngoại giao và một số phương thức qua dịch vụ bưu chính.
Như vậy, Tòa án có thẩm quyền và trách nhiệm thực hiện các thủ tục xác minh địa chỉ đương sự ở nước ngoài khi đáp ứng điều kiện theo quy định. Tuy nhiên, việc xác minh không phải là nghĩa vụ tuyệt đối trong mọi trường hợp; đương sự vẫn có trách nhiệm cung cấp cho Tòa án những thông tin, tài liệu mà mình có để làm cơ sở cho việc xác minh.
Liên hệ Hãng Luật Anh Đào và Cộng sự:
☎ Hotline: 0932 049 492
📧 Email: gvndtb1992@gmail.com
🏢 Địa chỉ: 18B Nam Quốc Cang, Phường Bến Thành, TP.HCM

