Công an có được tự ý khám xét nhà dân khi chưa có lệnh không? là một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm khi làm việc với cơ quan chức năng. Trên thực tế, không phải mọi trường hợp công an đều được quyền khám xét chỗ ở của công dân. Vậy pháp luật quy định như thế nào về căn cứ khám xét, ai có thẩm quyền ra lệnh khám xét và trường hợp nào được khám xét khẩn cấp? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
1. Công an có được tự ý khám xét nhà dân khi chưa có lệnh không?
Theo quy định quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân và không cho phép bất kỳ cá nhân, cơ quan nào tự ý khám xét nhà dân nếu không có căn cứ và không tuân thủ trình tự, thủ tục luật định.
Cụ thể, Theo Điều 22 Hiến pháp 2013 quy định:
“…
1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.
2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.
3. Việc khám xét chỗ ở do luật định.
…”
Và theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), việc khám xét chỗ ở chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng tại chỗ ở đó có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc các dữ liệu, tài liệu khác liên quan đến vụ án. Ngoài ra, cơ quan có thẩm quyền cũng có thể khám xét chỗ ở khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm người hoặc giải cứu nạn nhân.
Như vậy, công an không được tự ý khám xét nhà dân chỉ dựa trên nghi ngờ hoặc ý chí chủ quan. Việc khám xét chỉ được thực hiện khi có căn cứ theo quy định của pháp luật và phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng.
2. Căn cứ để cơ quan có thẩm quyền khám xét chỗ ở
Khám xét chỗ ở là một trong những biện pháp điều tra mang tính cưỡng chế, tác độnh trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân được Hiếp pháp bảo vệ. Chính vì vậy, pháp luật tố tụng hình sự không cho phép cơ quan tiến hành tố tụng tùy tiện áp dụng biện pháp này mà phải dựa trên những căn cứ chặt chẽ được luật định.
Theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) quy định,
“…
Điều 192. Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử
1. Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.
Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.
2. Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử.
…”
Từ những quy định nêu trên có thể thấy, việc khám xét chỗ ở không phải là quyền tùy nghi của cơ quan điều tra mà chỉ được thực hiện khi có căn cứ pháp luật rõ ràng. Đây là cơ chế quan trọng nhằm cân bằng giữa yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự.
3. Ai có thẩm quyền ra lệnh khám xét
Bên cạnh việc quy định chặt chẽ về căn cứ khám xét, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) còn xác định rõ những chủ thể có thẩm quyền ra lệnh khám xét nhằm bảo đảm hoạt động này được thực hiện đúng pháp luật, hạn chế tình trạng lạm quyền và bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân.
Theo Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), thẩm quyền ra lệnh khám xét thuộc về những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này. Cụ thể, bao gồm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên thuộc trường hợp luật định; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng xét xử.
Đối với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên thuộc trường hợp được pháp luật cho phép, lệnh khám xét phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành. Quy định này nhằm bảo đảm việc khám xét được thực hiện trên cơ sở khách quan, có căn cứ pháp luật rõ ràng và chịu sự kiểm sát của cơ quan thực hành quyền công tố.
Ngoài các chủ thể nêu trên, pháp luật còn trao quyền ra lệnh khám xét cho một số người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thuộc lực lượng Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Cảnh sát biển, Kiểm lâm, Kiểm ngư và các cơ quan khác theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, lệnh khám xét của những chủ thể này cũng phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
Đối với trường hợp khẩn cấp, khoản 2 Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho phép những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này được quyền ra lệnh khám xét mà không cần chờ phê chuẩn trước. Tuy nhiên, để tránh việc lạm dụng thẩm quyền, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi kết thúc việc khám xét, người đã ra lệnh phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện hoạt động kiểm sát theo quy định.
Bên cạnh đó, trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát về thời gian và địa điểm khám xét để cử Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Mọi hoạt động khám xét đều phải được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án nhằm bảo đảm tính minh bạch, khách quan và hợp pháp của hoạt động tố tụng.
Như vậy, không phải bất kỳ cán bộ công an nào cũng có quyền ra lệnh khám xét. Chỉ những người được pháp luật quy định cụ thể mới có thẩm quyền ban hành lệnh khám xét và việc thực hiện thẩm quyền này phải chịu sự kiểm sát chặt chẽ của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
4. Người dân có quyền gì khi bị khám xét nhà?
Khi bị khám xét nhà, người dân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xuất trình lệnh khám xét và giấy tờ chứng minh tư cách của người tiến hành khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp theo quy định của pháp luật. Người có chỗ ở bị khám xét được chứng kiến quá trình khám xét, được đọc và nhận biên bản khám xét sau khi việc khám xét kết thúc.
Ngoài ra, người dân có quyền yêu cầu ghi nhận ý kiến của mình vào biên bản nếu phát hiện sai sót hoặc có ý kiến không đồng ý với nội dung biên bản. Trường hợp cho rằng việc khám xét được thực hiện trái pháp luật hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết theo quy định.
Liên hệ Hãng Luật Anh Đào và Cộng sự:
📞 Hotline: 0932 049 492
📧 Email: gvndtb1992@gmail.com
🏢 Địa chỉ: 18B Nam Quốc Cang, Phường Bến Thành, TP.HCM

