Bạn nghỉ việc nhưng không biết mình có được nhận trợ cấp thôi việc hay không? Thực tế, không phải ai chấm dứt hợp đồng lao động cũng được nhận trợ cấp thôi việc, và nhiều người đã bỏ lỡ quyền lợi chỉ vì không nắm rõ quy định pháp luật. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ khi nào được nhận trợ cấp thôi việc, điều kiện cụ thể và cách xác định quyền lợi theo Bộ luật Lao động 2019 mới nhất.
1. Trợ cấp thôi việc là gì?
Trợ cấp thôi việc là khoản tiền mà người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp luật định, nhằm đảm bảo quyền lợi và ghi nhận thời gian làm việc của người lao động.
Căn cứ theo Bộ luật Lao động 2019, quy định cụ thể tại Điều 46, có thể hiểu rõ bản chất của trợ cấp thôi việc như sau:
“…
Khi hợp đồng lao động chấm dứt (…) thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương
…”
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định rõ về cách xác định thời gian và tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp:
“…
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế (…) trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc
…”
Bên cạnh đó, tại Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP cũng hướng dẫn chi tiết về các trường hợp được và không được nhận trợ cấp thôi việc, cũng như cách xác định thời gian làm việc thực tế.
Tóm lại, trợ cấp thôi việc là quyền lợi tài chính mà người lao động được nhận khi nghỉ việc hợp pháp, do người sử dụng lao động chi trả dựa trên thời gian làm việc và mức lương theo quy định của pháp luật.
2. Điều kiện để người lao động được nhận trợ cấp thôi việc
Để được nhận trợ cấp thôi việc, người lao động phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, đặc biệt tại Điều 46 và các quy định liên quan.
Trước hết, về thời gian làm việc, pháp luật quy định người lao động phải làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên thì mới đủ điều kiện cơ bản để hưởng trợ cấp thôi việc.
Bên cạnh đó, việc chấm dứt hợp đồng lao động phải thuộc các trường hợp hợp pháp theo quy định của pháp luật, tức là rơi vào các trường hợp chấm dứt hợp đồng được ghi nhận tại Điều 34 hoặc trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng quy định tại Điều 36 như: người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc, bị ốm đau kéo dài, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất do yếu tố khách quan hoặc người lao động đủ tuổi nghỉ hưu.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp nghỉ việc đều được nhận trợ cấp thôi việc. Cụ thể, theo Điều 46, người lao động sẽ không được hưởng khoản trợ cấp này nếu thuộc các trường hợp bị loại trừ như: đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội hoặc tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên theo điểm e khoản 1 Điều 36. Ngoài ra, thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp cũng sẽ không được tính để hưởng trợ cấp thôi việc. Như vậy, chỉ khi đáp ứng đồng thời các điều kiện về thời gian làm việc, căn cứ chấm dứt hợp đồng hợp pháp và không thuộc trường hợp loại trừ thì người lao động mới có thể nhận trợ cấp thôi việc theo đúng quy định pháp luật.
3. Thời gian làm việc để tính nhận trợ cấp thôi việc
Thời gian làm việc để tính nhận trợ cấp thôi việc được xác định trên cơ sở quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019. Theo đó, pháp luật quy định rõ:
“…
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
…”
Như vậy, không phải toàn bộ thời gian làm việc đều được dùng để tính trợ cấp thôi việc, mà chỉ tính phần thời gian làm việc thực tế chưa được “bù đắp” bởi các chế độ khác. Điều này nhằm tránh việc người lao động được hưởng trùng lặp quyền lợi.
Bên cạnh đó, theo hướng dẫn tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc được tính theo năm (đủ 12 tháng); trường hợp có thời gian lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính là 1/2 năm, còn từ đủ 06 tháng trở lên được tính là 01 năm làm việc.
Có thể hiểu đơn giản, để xác định chính xác thời gian nhận trợ cấp thôi việc, cần lấy tổng thời gian làm việc thực tế của người lao động, sau đó trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp trước đó theo đúng quy định pháp luật.
4. Cách tính tiền nhận trợ cấp thôi việc
Cách tính tiền nhận trợ cấp thôi việc được quy định rõ tại khoản 1 và khoản 3 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019. Theo đó, mỗi năm làm việc, người lao động sẽ được trợ cấp bằng một nửa tháng tiền lương, và tiền lương làm căn cứ tính là mức lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
Từ quy định này, có thể hiểu công thức tính như sau: tiền trợ cấp thôi việc bằng 1/2 nhân với thời gian làm việc được tính hưởng trợ cấp, nhân với tiền lương bình quân 6 tháng cuối. Trong đó, thời gian làm việc để tính trợ cấp được xác định bằng tổng thời gian làm việc thực tế sau khi đã trừ đi thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp trước đó theo quy định pháp luật.
Như vậy, số tiền nhận trợ cấp thôi việc sẽ phụ thuộc trực tiếp vào thời gian làm việc thực tế đủ điều kiện và mức lương của người lao động trước khi chấm dứt hợp đồng.

