Mượn xe rồi đem bán có phạm tội không? Nhiều người nghĩ rằng mượn xe của người quen rồi mang đi bán chỉ là tranh chấp dân sự, có thể giải quyết bằng việc trả tiền hoặc bồi thường. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của luật sư hình sự, hành vi mượn xe rồi đem bán tiềm ẩn rủi ro pháp lý rất lớn và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Vậy trong trường hợp này, người mượn xe sẽ bị xử lý theo tội danh nào, mức hình phạt ra sao và làm thế nào để phân biệt với quan hệ dân sự thông thường? Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể để bạn hiểu đúng và tránh những hậu quả pháp lý đáng tiếc.
1. Mượn xe rồi đem bán bị xử lý theo tội danh nào?
Hành vi mượn xe của người khác rồi đem bán, cầm cố hoặc chiếm đoạt trái ý chí chủ sở hữu rõ ràng vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Theo quyền sở hữu tài sản được pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo vệ, người không phải là chủ sở hữu chỉ được định đoạt tài sản khi có ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định pháp luật; nếu tự ý định đoạt sẽ là hành vi trái pháp luật.
Về mặt hình sự, trường hợp người mượn xe rồi không trả, mang đi bán/cầm cố, và cố tình chiếm đoạt tài sản đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017, 2025).
Điều 175 BLHS 2015 quy định về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Theo điều luật này, nếu người nào mượn, thuê tài sản của người khác rồi dùng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn, hoặc đến thời hạn trả nhưng có điều kiện, khả năng mà cố tình không trả lại tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi giá trị tài sản lớn hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại.
Ví dụ trong thực tế, nhiều vụ việc người mượn xe máy rồi đưa đi cầm cố, bán đã bị cơ quan điều tra khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 175 Bộ luật hình sự 2015.
2. Mức hình phạt khi mượn xe rồi đem bán
Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025), hành vi mượn xe rồi đem bán có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nếu người mượn sau khi nhận xe hợp pháp đã bán, cầm cố hoặc sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Tùy theo giá trị chiếc xe và tính chất, mức độ hành vi, người phạm tội có thể phải chịu các mức hình phạt sau:
Trường hợp 1: Giá trị xe từ 4 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng: Người mượn xe rồi đem bán có thể bị:
- Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, hoặc
- Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
Trường hợp giá trị xe dưới 4 triệu đồng nhưng:
- Đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, hoặc
- Đã có tiền án về các tội chiếm đoạt tài sản mà chưa được xóa án tích,
thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trường hợp 2: Giá trị xe từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng: Nếu mượn xe rồi đem bán thuộc một trong các trường hợp như: có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, thì: Bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm
Trường hợp 3: Giá trị xe từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng: Bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm
Trường hợp 4: Giá trị xe từ 500 triệu đồng trở lên: Bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, người phạm tội mượn xe rồi đem bán còn có thể bị:
- Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng
- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
- Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
3. Trách nhiệm dân sự kèm theo
Bên cạnh việc bị xử lý hình sự, người có hành vi mượn xe rồi đem bán còn phải chịu trách nhiệm dân sự đối với chủ sở hữu chiếc xe theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
Trước hết, căn cứ khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015, chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người đang chiếm hữu, sử dụng hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Do đó, trong trường hợp mượn xe rồi đem bán, chủ xe có quyền yêu cầu trả lại chính chiếc xe nếu tài sản còn thu hồi được.
Trường hợp chiếc xe đã bị bán, cầm cố hoặc không thể thu hồi, theo Điều 170 Bộ luật Dân sự 2015, chủ sở hữu có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu bồi thường thiệt hại. Việc bồi thường này là nghĩa vụ bắt buộc, không phụ thuộc vào việc người vi phạm có bị xử lý hình sự hay không.
Cụ thể, theo Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015, thiệt hại do tài sản bị xâm phạm trong trường hợp mượn xe rồi đem bán có thể bao gồm:
- Giá trị chiếc xe bị mất hoặc bị hủy hoại;
- Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác chiếc xe bị mất hoặc bị giảm sút (ví dụ: xe là phương tiện đi làm, chở hàng, kinh doanh);
- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại;
- Các thiệt hại khác theo quy định của pháp luật.
4. Chủ xe cần làm gì khi bị mượn xe rồi đem bán?
Khi phát hiện bị mượn xe rồi đem bán, chủ xe cần nhanh chóng trình báo cơ quan công an, cung cấp các giấy tờ xe và chứng cứ thể hiện việc cho mượn tài sản để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp. Đồng thời, chủ xe có quyền yêu cầu xử lý hình sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. Trên thực tế, việc thu hồi tài sản và bảo vệ quyền lợi sẽ hiệu quả hơn nếu chủ xe sớm liên hệ luật sư giỏi hình sự để được hướng dẫn soạn đơn, đánh giá chứng cứ và tham gia bảo vệ quyền lợi ngay từ giai đoạn đầu, tránh rủi ro pháp lý và thiệt hại kéo dài.

