Cướp giật tài sản nhưng chưa lấy được thì xử lý như thế nào?

cướp giật tài sản

Hành vi cướp giật tài sản dù chưa chiếm đoạt được vẫn khiến nhiều người băn khoăn không biết có bị xử lý hình sự hay không. Theo phân tích của luật sư hình sự, việc chưa lấy được tài sản không đồng nghĩa với việc không phạm tội nếu người vi phạm đã thực hiện đầy đủ hành vi cướp giật. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ quy định pháp luật về xử lý cướp giật tài sản trong trường hợp chưa chiếm đoạt được tài sản.

1. Cướp giật tài sản là gì?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), cướp giật tài sản là hành vi công khai giật lấy tài sản của người khác nhằm chiếm đoạt một cách nhanh chóng. Người thực hiện hành vi cướp giật tài sản, dù giá trị tài sản lớn hay nhỏ, đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm theo quy định của pháp luật.

2. Chưa lấy được tài sản có cấu thành tội cướp giật tài sản không?

Theo quy định của pháp luật hình sự, trường hợp người thực hiện hành vi cướp giật tài sản nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

Cụ thể, Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định:

“…

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Đồng thời, Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt như sau:

“…

Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi…
Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

Như vậy, trong trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi giật tài sản nhằm chiếm đoạt nhưng không lấy được tài sản do bị ngăn chặn bởi nguyên nhân khách quan, thì vẫn bị coi là phạm tội cướp giật tài sản chưa đạt và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

3. Hình phạt áp dụng khi cướp giật tài sản nhưng chưa lấy được

Đối với hành vi cướp giật tài sản nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản, nếu xác định thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt thì người thực hiện hành vi vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản theo Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), đồng thời được xem xét quyết định hình phạt theo quy định chung đối với tội phạm chưa đạt.

Cụ thể, khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự quy định:

“…

Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Trường hợp hành vi cướp giật tài sản có kèm theo các tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 171 như: có tổ chức, dùng thủ đoạn nguy hiểm, hành hung để tẩu thoát, gây thương tích, hoặc chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn, thì mức hình phạt có thể từ 03 năm đến 10 năm, 07 năm đến 15 năm, thậm chí 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi.

Trong trường hợp chưa lấy được tài sản, Tòa án sẽ căn cứ vào các khung hình phạt nêu trên của Điều 171 để quyết định mức hình phạt phù hợp, đồng thời xem xét đây là tình tiết phạm tội chưa đạt để áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn so với trường hợp tội phạm đã hoàn thành, theo quy định của Bộ luật Hình sự.

4. Có bị xử phạt hành chính hay không?

Theo quy định của pháp luật, xử phạt hành chính chỉ áp dụng khi hành vi chiếm đoạt tài sản chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự. Trường hợp hành vi cướp giật tài sản chưa đạt nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính theo Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

Cụ thể, khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định:

“…

Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Trộm cắp tài sản;
b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản;
c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản;

…”

Ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả, như tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm, buộc trả lại tài sản đã chiếm giữ trái phép theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Nghị định 144/2021/NĐ-CP không điều chỉnh hành vi cướp giật tài sản đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm hình sự. Trong trường hợp người vi phạm đã thực hiện hành vi giật tài sản nhằm chiếm đoạt một cách công khai, nhanh chóng và nguy hiểm cho xã hội, thì hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 171 Bộ luật Hình sự, dù tài sản chưa bị chiếm đoạt.

Tóm lại, hành vi cướp giật tài sản dù chưa lấy được tài sản vẫn có thể bị xử lý hình sự hoặc hành chính tùy từng trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật. Do tính chất phức tạp và hậu quả pháp lý nghiêm trọng, người liên quan nên sớm trao đổi với luật sư giỏi hình sự để được tư vấn chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ngay từ đầu.