Án treo trong thời gian thử thách có được đi làm xa không?

người hưởng án treo có được đi làm xa không

Án treo được đi làm xa không? Đây là câu hỏi khiến rất nhiều người đang trong thời gian thử thách lo lắng, bởi chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Thực tế, không ít trường hợp vì thiếu hiểu biết đã tự ý rời khỏi nơi cư trú để đi làm xa và bị coi là vi phạm nghĩa vụ án treo. Dưới góc nhìn của luật sư hình sự, việc đi làm xa khi đang hưởng án treo không phải lúc nào cũng bị cấm, nhưng bắt buộc phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

1. Án treo là gì? Thời gian thử thách của án treo

Căn cứ khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định:

“…

Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự

...”

Quy định này cho thấy, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, người được hưởng án treo không phải đi chấp hành hình phạt tù ngay, nhưng bắt buộc phải tuân thủ các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Tiếp đó, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định:

“…

Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục.

Từ quy định trên có thể hiểu, trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú hoặc nơi làm việc. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng liên quan trực tiếp đến việc đi làm xa của người đang chấp hành án treo.

Cụ thể, nếu người được hưởng án treo tự ý rời khỏi nơi cư trú hoặc nơi làm việc đã được xác định trong bản án để đi làm xa mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép, thì có thể bị coi là vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Trường hợp vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên, theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Như vậy, từ các quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự có thể khẳng định rằng: pháp luật không cấm tuyệt đối người hưởng án treo đi làm xa, tuy nhiên việc đi làm xa chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao giám sát, giáo dục, nhằm bảo đảm việc quản lý và thi hành án đúng quy định.

2. Người hưởng án treo có nghĩa vụ gì trong thời gian thử thách?

Căn cứ Điều 87 Luật Thi hành án hình sự năm 2019, trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Thứ nhất, nghĩa vụ có mặt và cam kết chấp hành án: Khoản 1 Điều 87 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định:

“…

Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này

…”

Đồng thời, khoản 1 Điều 85 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định:

“…

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án treo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người được hưởng án treo … để cam kết việc chấp hành án. Người được hưởng án treo phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

…”

Như vậy, người được hưởng án treo bắt buộc phải có mặt theo giấy triệu tập để cam kết chấp hành án; trường hợp không có mặt hoặc không cam kết mà không có lý do chính đáng sẽ bị lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.

Thứ hai, nghĩa vụ tuân thủ pháp luật và nội quy tại nơi cư trú, nơi làm việc: Khoản 2 Điều 87 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định:

“…

Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

…”

Quy định này thể hiện người hưởng án treo không được tùy ý thay đổi điều kiện sinh sống, làm việc, nếu việc đó làm ảnh hưởng đến công tác quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền.

Thứ ba, nghĩa vụ chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan có thẩm quyền: Khoản 3 Điều 87 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định:

“…

Chịu sự giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc.

…”

Theo đó, trong suốt thời gian thử thách, người hưởng án treo phải chịu sự giám sát thường xuyên tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc đã được xác định, không được tự ý làm gián đoạn việc giám sát này.

Thứ tư, nghĩa vụ chấp hành quy định về vắng mặt, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc: Khoản 4 Điều 87 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định: 

“…Chấp hành quy định tại Điều 92 của Luật này…”

Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019:

“…

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép… Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã…; khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú.

…”

Như vậy, việc đi làm xa, vắng mặt khỏi nơi cư trú hoặc thay đổi nơi làm việc của người hưởng án treo chỉ hợp pháp khi có lý do chính đáng và được cơ quan có thẩm quyền cho phép, không được tự ý thực hiện.

Thứ năm, nghĩa vụ có mặt theo yêu cầu và báo cáo định kỳ: Khoản 5 và khoản 6 Điều 87 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định:

“…

Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự…”

Hằng tháng phải báo cáo bằng văn bản … về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.

…”

Điều này cho thấy người hưởng án treo phải duy trì liên tục việc báo cáo và phối hợp với cơ quan giám sát, kể cả trong trường hợp vắng mặt hợp pháp.

3. Án treo trong thời gian thử thách có được đi làm xa không?

Người đang chấp hành án treo không bị cấm hoàn toàn việc đi làm xa, nhưng việc này phải tuân thủ đúng các quy định về vắng mặt, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc được quy định trong Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

“…

Điều 92. Giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án treo

1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

…”

Như vậy, pháp luật không cấm người hưởng án treo đi làm xa hoặc ra khỏi địa phương nơi cư trú, miễn là họ thực hiện đầy đủ thủ tục xin phép và báo cáo theo quy định pháp luật. Việc đi làm xa (tạm vắng khỏi nơi cư trú) chỉ được coi là hợp pháp khi có lý do chính đáng và có xác nhận, chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền (UBND cấp xã/đơn vị quân đội được giao giám sát).

Nếu người hưởng án treo tự ý đi làm xa mà không xin phép và không báo cáo, đây sẽ là vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách, có thể dẫn tới hậu quả là bị xử lý theo quy định pháp luật hoặc bị buộc thi hành án phạt tù nếu vi phạm từ 02 lần trở lên.

Ngược lại, nếu người đó đi làm xa đúng quy trình xin phép và tuân thủ thời hạn vắng mặt, thì hành vi này được pháp luật cho phép và không coi là vi phạm án treo.

4. Thủ tục xin đi làm xa khi đang hưởng án treo

Theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự 2019, người đang hưởng án treo không được tự ý đi làm xa nếu việc đó làm phát sinh việc vắng mặt dài ngày tại nơi cư trú hoặc thay đổi nơi làm việc. Trường hợp có nhu cầu đi làm xa, người hưởng án treo bắt buộc phải xin phép cơ quan có thẩm quyền.

Từ thực tiễn tư vấn của luật sư chuyên hình sự, thủ tục xin đi làm xa khi đang hưởng án treo thường được thực hiện như sau: người hưởng án treo phải làm đơn xin vắng mặt hoặc xin thay đổi nơi làm việc, trong đó nêu rõ lý do đi làm xa, địa điểm làm việc, thời gian vắng mặt và nơi cư trú tạm thời, gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc đơn vị được giao giám sát, giáo dục. Chỉ khi có văn bản chấp thuận, việc đi làm xa mới được xem là hợp pháp.

Khoản 1 và khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự 2019 quy định, thời gian vắng mặt mỗi lần không quá 60 ngày, tổng thời gian vắng mặt không quá 1/3 thời gian thử thách, đồng thời trong thời gian đi làm xa, người hưởng án treo vẫn phải chịu sự giám sát, báo cáo theo quy định.

Theo khuyến nghị của luật sư hình sự uy tín, người hưởng án treo tuyệt đối không nên tự ý đi làm xa khi chưa được cho phép, bởi hành vi này có thể bị coi là vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách, làm căn cứ để xem xét buộc chấp hành hình phạt tù theo quy định pháp luật.

Liên hệ Luật sư chuyên về hình sự tại TP.HCM – Hãng Luật Anh Đào và Cộng sự

Nếu bạn đang cần hỗ trợ pháp lý trong lĩnh vực hình sự, đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi để được tư vấn nhanh chóng và chuyên nghiệp.

📞 Hotline: 0932 049 492
📧 Email: gvndtb1992@gmail.com
🏢 Văn phòng: 18B Nam Quốc Cang, Phường Bến Thành, TP.HCM

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *