Trong tố tụng dân sự, khi biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn phù hợp có được thay thế hoặc bổ sung biện pháp khác không?

thay thế hoặc bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ chứng cứ, tài sản hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp biện pháp đang được áp dụng không còn phù hợp với diễn biến vụ án. Vậy khi biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn phù hợp thì có được thay thế hoặc bổ sung biện pháp khác hay không? Điều kiện để Tòa án chấp nhận yêu cầu này được pháp luật quy định như thế nào?

1. Quy định của pháp luật về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo tố tụng dân sự

Theo quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) quy định các biện pháp khẩn cấp tạm thời hiện hành gồm:

“…

Điều 114. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.

3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.

4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.

6. Kê biên tài sản đang tranh chấp.

7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.

8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.

9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.

10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.

11. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.

13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.

14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.

15. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu.

16. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.

17. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định.

…”

Như vậy, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo toàn tài sản, chứng cứ và bảo đảm cho quá trình giải quyết vụ án cũng như thi hành án sau này được thực hiện hiệu quả.

2. Khi biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn phù hợp có được thay thế hoặc bổ sung biện pháp khác không?

Pháp luật tố tụng hiện hành cho phép tòa án thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác khi biện pháp đang được áp dụng không còn phù hợp với thực tế vụ án.

Cụ thể, Điều 137 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định,

“…

Điều 137. Thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời

Khi xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng không còn phù hợp mà cần thiết phải thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì thủ tục thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được thực hiện theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.

…”

Bên canh đó, Điều 15 Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn cụ thể vấn đề này. Theo đó, người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có quyền gửi đơn đề nghị Tòa án thay đổi hoặc bổ sung biện pháp khác. Tòa án sẽ xem xét, giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục luật định.

“…

Điều 15. Về thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 137 của Bộ luật Tố tụng dân sự

1. Trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có đơn yêu cầu Tòa án thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì thủ tục thay đổi, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được thực hiện theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại các điều 10, 11 và 12 của Nghị quyết này.

2. Trường hợp thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời mà người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc phải thực hiện biện pháp bảo đảm ít hơn biện pháp bảo đảm mà họ đã thực hiện thì Tòa án xem xét quyết định cho họ được nhận lại toàn bộ hoặc một phần khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá mà họ đã gửi trong tài khoản phong tỏa tại ngân hàng theo quyết định của Tòa án, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

…”

Như vậy, pháp luật không chỉ cho phép thay đổi hoặc bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời mà còn tạo cơ chế linh hoạt để bảo đảm việc áp dụng các biện pháp này phù hợp với diễn biến thực tế của vụ án.

3. Những trường hợp không được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Mặc dù biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự, tuy nhiên không phải trường hợp nào Tòa án cũng được quyền áp dụng.

Điều 4 Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP đã quy định một số trường hợp không được áp được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm tránh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất,  kinh doanh hoặc quyền lợi thiết yếu của cá nhân, tổ chức.

“…

Điều 4. Những trường hợp không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời dẫn đến doanh nghiệp, hợp tác xã bị ngừng hoạt động.

Ví dụ: Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa toàn bộ tài khoản duy nhất của doanh nghiệp dẫn đến doanh nghiệp bị ngừng hoạt động.

2. Việc áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp, biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ quy định tại khoản 7 và khoản 11 Điều 114 của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với tài sản là:

a) Tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định tại Điều 297 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Dân sự), trừ trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời là bên nhận bảo đảm;

b) Tài sản đã được tổ chức bán đấu giá và người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác.

2. Việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác quy định tại khoản 10 Điều 114 của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với tài khoản được doanh nghiệp sử dụng để thanh toán nghĩa vụ đối với tổ chức tín dụng theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.

3. Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:

a) Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng;

b) Tài sản của cá nhân gồm: Lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu; thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh; vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm; đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương; công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống thiết yếu của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; đồ dùng sinh hoạt thiết yếu;

c) Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gồm: Thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động; nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh; trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường.

…”

Những quy định này nhằm bảo đảm việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện đúng mục đích, hợp lý và không làm ảnh hưởng quá mức đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có liên quan.

Liên hệ Hãng Luật Anh Đào và Cộng sự:
📞 Hotline: 0932 049 492
📧 Email: gvndtb1992@gmail.com
🏢 Địa chỉ: 18B Nam Quốc Cang, Phường Bến Thành, TP.HCM