Làm việc không có hợp đồng lao động thì có được pháp luật bảo vệ không?

làm việc không có hợp đồng lao động

Không ký hợp đồng thì coi như mất trắng quyền lợi? – Đây là nỗi lo của rất nhiều người đang làm việc không có hợp đồng lao động hiện nay. Chỉ vì tin tưởng, làm việc theo thỏa thuận miệng hoặc ngại thủ tục, không ít người rơi vào cảnh bị nợ lương, cho nghỉ việc đột ngột mà không biết bấu víu vào đâu. Nhưng liệu thực tế pháp luật có “bỏ mặc” người lao động trong trường hợp này? Hay vẫn tồn tại cơ chế bảo vệ ngay cả khi không có hợp đồng lao động? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ quyền lợi của mình theo quy định của Bộ luật Lao động 2019.

1. Không có hợp đồng lao động là gì?

Không có hợp đồng lao động là trường hợp người lao động và người sử dụng lao động không ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản, mà chỉ thỏa thuận bằng miệng hoặc làm việc thực tế nhưng không có giấy tờ ghi nhận.

Tuy nhiên, theo Điều 13 Bộ luật Lao động 2019, pháp luật không chỉ căn cứ vào hình thức văn bản mà còn dựa vào bản chất của quan hệ lao động.

Cụ thể, luật quy định:

“…

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động

...” 

Đồng thời, Điều 14 Bộ luật Lao động 2019 cũng cho phép trong một số trường hợp, hợp đồng lao động có thể được giao kết bằng lời nói đối với công việc dưới 01 tháng.

Như vậy, có thể khẳng định rằng không có hợp đồng lao động bằng văn bản không đồng nghĩa với việc không tồn tại quan hệ lao động, nếu trên thực tế vẫn có việc làm, có trả lương và có sự quản lý, điều hành.

2. Làm việc không có hợp đồng lao động có được bảo vệ không?

Làm việc không có hợp đồng lao động vẫn được pháp luật bảo vệ, nếu người lao động chứng minh được quan hệ lao động tồn tại trên thực tế. Trước hết được ghi nhận tại Điều 13 Bộ luật Lao động 2019, theo đó, chỉ cần giữa các bên có thỏa thuận về việc làm có trả lương và có sự quản lý, điều hành thì dù không ký hợp đồng bằng văn bản, quan hệ đó vẫn được coi là hợp đồng lao động.

Không chỉ dừng lại ở việc công nhận, pháp luật còn thiết lập cơ chế bảo vệ thông qua chế tài xử phạt đối với người sử dụng lao động. Cụ thể, theo Điều 9 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, hành vi không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động làm việc từ đủ 01 tháng trở lên sẽ bị xử phạt hành chính, với mức phạt từ 2.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng tùy theo số lượng người lao động vi phạm. Đồng thời, người sử dụng lao động còn bị buộc phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động theo quy định.

Như vậy, có thể thấy pháp luật không thừa nhận việc “né hợp đồng” để trốn tránh nghĩa vụ, mà ngược lại còn đặt ra chế tài và biện pháp khắc phục nhằm bảo vệ người lao động. Do đó, không có hợp đồng lao động không đồng nghĩa với việc mất quyền lợi, mà người lao động vẫn có đầy đủ cơ sở pháp lý để yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình như tiền lương, bảo hiểm và bồi thường khi bị xâm phạm.

3. Cách chứng minh quan hệ lao động khi không có hợp đồng

Trong trường hợp làm việc không có hợp đồng lao động, người lao động vẫn có thể chứng minh quan hệ lao động thông qua các tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng. Cụ thể, theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp. Đáng chú ý, pháp luật còn bảo vệ người lao động khi quy định rằng: nếu người lao động không thể cung cấp chứng cứ vì các tài liệu đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp cho Tòa án.

Bên cạnh đó, theo Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người lao động có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ và chứng minh yêu cầu của mình, đồng thời Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ thu thập chứng cứ trong những trường hợp cần thiết. Ngoài ra, Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định rõ các nguồn chứng cứ hợp pháp, bao gồm: tài liệu, dữ liệu điện tử, vật chứng, lời khai của đương sự, lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu liên quan khác.

Từ các quy định trên có thể thấy, dù không có hợp đồng lao động, người lao động vẫn có thể sử dụng nhiều loại chứng cứ như tin nhắn, email, bảng lương, sao kê chuyển khoản, lời khai đồng nghiệp… để chứng minh quan hệ lao động. Đồng thời, pháp luật cũng đặt ra nghĩa vụ cung cấp chứng cứ từ phía người sử dụng lao động nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động không bị ảnh hưởng chỉ vì thiếu hợp đồng bằng văn bản.